MENU
Home » Articles » Bộ môn võ lý » Đặc trưng võ phái

Ý NGHĨA MÀU ĐAI
* Trưởng phái viên Võ Bình Việt
Võ Đạo Bình định Việt Nam



Các bộ môn võ học phương Đông đều dựa trên nền tảng của nguyên lý triết học, đặc biệt là học thuyết về Âm dương và Ngũ hành. Học thuyết này có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều phương diện của văn hóa truyền thống phương Đông, trong đó Võ Bình Việt cũng không ngoại lệ, nên có câu nói rằng: "Đằng sau võ học là triết học".

Màu đai tượng trưng và biểu hiện cho khả năng của võ sinh, nó là một trong những thước đo bên ngoài thể hiện sự thấu liễm võ thuật của võ phái lên người học. Qua đó, nó đánh giá mức độ "thâm nhập võ thuật" của võ sinh.

Cấp bậc (trình độ chuyên môn) của võ sinh được đánh giá và ghi nhận qua màu sắc chiếc đai và đẳng (vạch đai) mà võ sinh được mang (thắt lưng) khi tập luyện. Ý nghĩa đó có một giá trị nhân văn sâu sắc...

Xuất phát từ quan niệm truyền thống Á Đông: “Thiên nhất sinh thủy – Địa lục thành chi” để nói lên điểm gốc của vạn vật trong vũ trụ là Thủy khí, cho nên võ phái lấy màu đen làm khởi đầu cho hệ thống đẳng cấp với trình tự từ thấp đến cao là: Đen - Xanh – Trắng - Vàng – Đỏ để chứng nhận khả năng thấu liễm võ học, tôi rèn đạo đức khiêm cung, cầu tiến của võ sinh.

1. Nguyên lý ngũ hành

Thuyết Ngũ hành là năm yếu tố căn bản tạo thành vạn vật hữu hình và vô hình, được dùng để giải thích về cơ cấu của vũ trụ bao la vĩnh hằng này. Trong đó, trời có Ngũ khí, đất có Ngũ hành.

Ngũ khí của Trời là năm sắc khí: Huyền (đen) – Thanh (xanh) – Hồng (đỏ) – Hoàng (vàng) – Bạch (trắng) đã ngưng kết tạo ra Ngũ hành: Thủy (nước) – Mộc (cây) – Hỏa (lửa) – Thổ (đất) – Kim (thép).
  • Kim loại bị đốt cháy thành thể lỏng là nước (hành Thủy ứng với màu đen).
  • Nước là thành phần không thể thiếu để nuôi cây, sinh ra gỗ (hành Mộc ứng với màu xanh).
  • Gỗ đốt cháy thành lửa (hành Hỏa ứng với màu đỏ).
  • Lửa thiêu mọi vật thành than tro biến ra đất (hành Thổ ứng với màu vàng).
  • Đất sinh ra các thể kim loại (hành Kim ứng với màu trắng).
Giữa Âm dương và Ngũ hành có sự liên hệ mất thiết với nhau: Khí dương thịnh, hợp hành Mộc thành mùa Xuân, hợp hành Hỏa thành mùa Hạ. Khí Âm thịnh, hợp hành Kim thành mùa Thu, hợp hành Thủy thành mùa Đông.

Vì thế, người xưa cho rằng mọi vật trong vũ trụ đều do năm vật chất ban đầu phối hợp với nhau mà tạo thành. Học thuyết này, đã diễn giải sự sinh hoá của vạn vật qua hai nguyên lý cơ bản là tương sinh và tương khắc.

a) Ngũ hành tương sinh:

Tương sinh có nghĩa là giúp đỡ nhau để phát triển, có quan hệ xúc tiến, nương tựa lẫn nhau. Trong luật tương sinh của Ngũ hành còn bao hàm ý nữa là hành nào cũng có quan hệ trên hai phương diện: Cái sinh ra nó và cái nó sinh ra (tức quan hệ mẹ con). Đem Ngũ hành liên hệ với nhau thì thấy 5 hành có quan hệ xúc tiến lẫn nhau, nương tựa lẫn nhau. Quan hệ tương sinh của Ngũ hành là: Thuỷ sinh Mộc - Mộc sinh Hỏa - Hoả sinh Thổ - Thổ sinh Kim - Kim sinh Thủy.
Ngũ hành tương sinh lẽ tự nhiên (Quan hệ Mẹ với Con)
  • Nhờ nước cây xanh mọc lớn lên (Thuỷ sinh Mộc)
  • Cây cỏ làm mồi nhen lửa đỏ (Mộc sinh Hoả)
  • Tro tàn tích lại đất vàng thêm (Hoả sinh Thổ)
  • Lòng đất tạo nên kim loại trắng (Thổ sinh Kim)
  • Kim loại vào lò chảy nước đen (Kim sinh Thuỷ).
b) Ngũ hành tương khắc:

Còn tương khắc có nghĩa là ức chế và thắng nhau, có tác dụng duy trì sự thăng bằng, giữ gìn lẫn nhau. Trong tương khắc, mỗi hành lại có hai mối quan hệ: Cái khắc nó và cái nó khắc (tức là quan hệ thắng thua).
Ngũ hành tương khắc lẽ xưa nay (Quan hệ Thắng và Thua)
  • Rễ cỏ đâm xuyên lớp đất dày (Mộc khắc Thổ)
  • Đất đắp đê cao ngăn nước lũ (Thổ khắc Thuỷ)
  • Nước dội nhiều nhanh dập lửa ngay (Thuỷ khắc Hoả)
  • Lửa lò nung chảy đồng sắt thép (Hoả khắc Kim)
  • Thép cứng rèn dao chặt cỏ cây (Kim khắc Mộc).
Âm Dương chuyển vận luôn luôn ảnh hưởng lên Ngũ hành, khiến thời tiết biến đổi. Cùng với hai khí Âm dương, Ngũ hành cũng biến chuyển không ngừng nguyên lý Âm dương, Ngũ hành tương sinh, tương khắc để giải thích tác dụng tấn công, phòng thủ, phản đòn, biến thế của các chiêu thức quyền. Tức lấy lý luận tương sinh để nói lên dịch sinh biến hóa nối nhau của các chiêu thức quyền, lấy tương khắc để nói lên chiêu thức quyền chế ước lẫn nhau.

Cho nên theo Ngũ hành nguyên lý thì lẽ tạo hoá không thể không có sinh mà cũng không thể không có khắc. Không có sinh thì lấy gì mà nảy nở; còn không có khắc thì phát triển trở nên vô độ. Cần phải có sinh trong khắc, có khắc trong sinh mới vận hành liên tục, tương phản, tương thành với nhau. Hiện tượng tương sinh - tương khắc không tồn tại độc lập, chúng có mối quan hệ qua lại với nhau. Trong tương khắc đã có mầm mống của tương sinh, trong phát triển có hủy diệt và ngược lại đã làm cho vạn vật tồn tại và phát triển từ đây.

2. Nguyên lý vòng đời

Có thể liên tưởng ý nghĩa màu đai của Võ Bình Việt như một chuỗi sự sống, sự phát triển hình thành của con người:

a) Khí đen (tuyệt khí): Từ trên không sanh ra nước (hành Thủy) màu đen (cái cũ sinh cái mới) – Đây là giai đoạn của bào thai cho đến việc chào đời.

b) Khí xanh (sinh khí): Ngự ở trên không sanh ra cây cỏ (hành Mộc) màu xanh - Đây là giai đoạn nuôi nấng và dạy dỗ (bảo dưỡng).

c) Khí đỏ (trưởng khí): Rực ở trên không, sanh ra lửa (hành Hỏa) màu đỏ - Đây là giai đoạn lớn lên (trưởng thành) với ý chí và nghị lực cùng sức khỏe cường tráng (mạnh khỏe).

d) Khí vàng (hóa khí): Rộp ở trên không sanh ra đất (hành Thổ) màu vàng - Đây là giai đoạn lúc về già suy bại cùng bệnh hoạn (ốm yếu).

e) Khí trắng (bại khí): Ngáng ở trên không sanh ra loài kim (hành Kim) màu trắng - Đây là giai đoạn chuyển sang "tuyệt khí” với cuộc đời.
  • Bào thai cho sự sống (màu đen)
  • Ra đời mau lớn khôn (màu xanh)
  • Học tập cùng cống hiến (màu đỏ)
  • Già yếu kèm bật tật (màu vàng)
  • Kết thúc để hóa đổi (màu trắng).
3. Ý nghĩa màu đai

Với những hiểu biết dựa trên cái học của Khổng Mạnh (Đông Phương) ngày trước. Các màu sắc đai cũng được sắp xếp tế nhị theo nguyên lý âm dương ngũ hành của màu sắc được phân định như sau: Những màu sắc càng sáng thì độ “tính dương” càng cao, còn những màu sắc mà càng tối thì “tính âm” càng lớn. Tính âm dương thể hiện cụ thể theo chiều tăng giảm sau đây: Màu đỏ (tính + mạnh nhất), màu vàng (tính + mạnh), màu trắng (-, + cân bằng), màu xanh (tính – nhẹ), màu đen (tính – mạnh).

Trong đó, hành Thủy tượng trưng cho đai màu Đen, hành Mộc tượng trưng cho đai màu Xanh, hành Kim tượng trưng cho đai màu Trắng, hành Thổ tượng trưng cho đai màu Vàng, hành Hỏa tượng trưng cho đai màu Đỏ.

Chính vì thế, màu đai của võ sinh từ lúc nhập môn đến khi xuất sư được sắp xếp một cách khoa học, hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, ngoài ra còn biểu thị ý nghĩa như sau:

a) Màu đen (Huyền đai): Bậc thấp nhất trong hệ thống đào tạo, tượng trưng cho sự mù mịt, u tối, đang chập chững trên con đường minh triết, chưa biết gì về võ thuật và võ đạo.

b) Màu xanh (Thanh đai): Bậc kế tiếp trong hệ thống đào tạo, tượng trưng cho niềm tin, ý chí, hy vọng vào tương lai tươi sáng đang phát triển, sinh sôi nẩy nở, chứa đầy nhựa sống của vạn vật trên con đường võ thuật và võ đạo.

c) Màu trắng (Bạch đai): Bậc trung gian trong hệ thống đào tạo, tượng trưng cho sự thuần khiết, minh triết và toàn giác của võ thuật và võ đạo.

d) Màu vàng (Hoàng đai): Bậc thành tựu trong hệ thống đào tạo, tượng trưng cho thành quả sơ khởi mà cao quý về tinh thần võ thuật và võ đạo.

e) Màu đỏ (Hồng đai): Bậc thượng thặng trong hệ thống đào tạo, tượng trưng cho ngọn lửa nhiệt huyết, hùng mạnh, vững vàng đầy bản lĩnh, kiên định trên con đường võ thuật và võ đạo.

Theo quy luật chung, màu đai thể hiện tính tôn ti trật tự, thứ bậc nghiêm minh, lòng nhiệt huyết, cùng tình yêu võ thuật. Đó cũng chính là nét văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, cho nên trong tất cả các buổi lễ hội, sinh hoạt và tập luyện đều phải mang đai và đẳng theo đúng bậc và cấp trong hệ thống đào tạo quy định của võ phái.
 
Bến Tre, ngày 01 tháng 03 năm 2017
VÕ ĐẠO BÌNH ĐỊNH VIỆT NAM

(Đã ký)

Trưởng phái viên Võ Bình Việt
Category: Đặc trưng võ phái | Added by: admin (21/04/2017) | Author: Trưởng phái viên Võ Bình Việt E W
Views: 36 | Rating: 5.0/1
Total comments: 0
avatar