MENU
THỦY TỔ HÙNG VƯƠNG

* Trưởng phái viên Võ Bình Việt
Võ Đạo Bình Định Việt Nam



Theo truyền thuyết lịch sử và các tài liệu, thư tịch cổ thì lịch sử thời đại Hồng Bàng là thời đại thượng cổ của lịch sử Việt Nam. Tương truyền rằng thời ấy, ở xóm Bàng, thôn Đoài, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, phủ Siêu Loại, xứ Vũ Ninh, trên vùng châu thổ sông Hồng có một vị tổ sư, người phát sinh ra nghề trồng lúa nước và truyền nghề đó cho dân chúng các vùng lân cận. Vì vậy ông được nhân dân suy tôn là Thần Nông và lập đền thờ đến nay vẫn còn. Hàng năm cứ vào ngày Mùng 4 tháng Hai (âm lịch) dân làng mở hội cầu mọi sự tốt lành và tỏ lòng biết ơn, thành kính cụ tổ Thần Nông.

I. NGUỒN GỐC TỘC VIỆT

1. Lịch sử Việt Nam

Đại Việt Sử ký Toàn thư, phần lời tựa của Ngô Sĩ Liên chép: "Nước Đại Việt ở phía nam Ngũ Lĩnh, thế là trời đã phân chia giới hạn Nam – Bắc. Thủy tổ của ta là dòng dõi họ Thần Nông, thế là trời sinh chân chúa, có thể cùng với Bắc triều mỗi bên làm đế một phương".

Theo truyền thuyết, Thần Nông sống cách đây khoảng 5.000 năm và là người đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ Tịch điền (còn gọi là lễ Thượng điền, tổ chức sau khi gặt hái, thu hoạch mùa màng) hoặc Hạ Điền (lễ tổ chức trước khi gieo trồng), cũng như nghề làm thuốc trị bệnh, cho nên trong dân gian có câu: "Thần Nông thường bách thảo, giáo nhân y liệu dữ nông canh" (tức Thần Nông nếm trăm cây thuốc, dạy dân trồng ngũ cốc).

Theo sử sách, cổ tịch còn lưu truyền thì cụ Thần Nông kết duyên cùng Nữ Long và sinh hạ được Viêm Đế. Viêm Đế sinh ra Đế Minh. Đế Minh sinh ra Đế Nghi. Sau khi Đế Minh đi tuần phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh thì gặp người con gái Vụ Tiên và kết duyên cùng nàng. Mối tình này đã sinh ra Lộc Tục.

Lộc Tục sớm tỏ ra là bậc thánh trí, có tư chất thông minh, tài đức hơn người, tinh thần đoan chính, sức khỏe phi thường. Lộc Tục được Đế Minh hết sức yêu quý và muốn nhường ngôi báu cho. Tuy nhiên với bản tính khiêm nhường, đức độ Lộc Tục cố nhường ngôi cho anh là Đế Nghi. Vì vậy Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi cho cai quản phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc) và phong Lộc Tục cai quản phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam). Lộc Tục lấy danh hiệu là Kinh Dương Vương.

Theo "Lĩnh Nam chích quái” "Đại Việt sử ký toàn thư” thì vào năm 2879 (TCN) vua Kinh Dương Vương đã thành lập nhà nước sơ khai đầu tiên đặt tên là Xích Quỷ (tên của sao Quỷ, một trong 28 ngôi sao trong Nhị Thập Bát Tú. Xích Quỷ có nghĩa là sao đỏ. Trời Nam có sao Quỷ đỏ nhất, sáng nhất). Theo "Lịch triều hiến chương loại chí” của Phan Huy Chú thì Kinh Dương Vương thuở ban đầu đóng đô tại núi Hồng Lĩnh hay còn gọi là Ngàn Hồng (thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh ngày nay). Sau đó dời đô ra Ao Việt (Việt Trì, Phú Thọ).

Kinh Dương Vương đã đi kinh lý khắp núi cao, rừng sâu, biển xa nước Việt. Vương vất vả ngày đêm không quản sớm trưa, nắng mưa, chiều tối, thức khuya dậy sớm, lặn lội khắp mọi vùng, mọi miền đất nước, vượt qua muôn trùng bảo tố phong ba để trông nom, gây dựng, mở mang, gìn giữ bờ cõi giang san. Vương lấy đức mà cảm hóa dân. Vương rất trọng nghề nông, yêu quý người làm ra của cải vật chất. Vì vậy khắp nơi dân giàu có, Vương được trăm họ tin yêu, quy tụ. Ngài lập làng, dạy dân cày cấy, đào giếng, trồng ngũ cốc, săn bắn chim muông. Tương truyền thì Ngài còn dạy dân nhìn bóng nắng mà đoán giờ giấc, cách tính thời tiết 4 mùa, định các hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Ngài còn dạy cháu con biết cách dựa theo ngũ hành, hiểu về khí âm dương, thiên địa tạo nên 4 mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông và 5 hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Hồ quân (còn có tên là Thần Long) là Long nữ sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, sinh một lần trăm người con trai. Một hôm, Lạc Long Quân bảo Âu Cơ rằng: "Ta là giống rồng, nàng là giống tiên, thủy hỏa khắc nhau, chung hợp thật khó". Bèn từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ về núi, 50 con theo cha về ở miền biển, phong cho con trưởng làm Hùng Vương, nối ngôi vua.

2. Thần Nông bản kỷ

1) Đế Viêm (hay còn gọi là Viêm Đế là vua đầu tiên xuất xứ từ bộ lạc Thần Nông nên cũng gọi là vua Thần Nông).

2) Đế Đồi (con Đế Viêm)

3) Đế Thừa (con Đế Đồi)

4) Đế Minh (con Đế Thừa)

5) Đế Trực (con Đế Minh)

6) Đế Nghi (con Đế Trực)

7) Đế Lai (con Đế Nghi)

8) Đế Khắc (con Đế Lai)

9) Đế Du (con Đế Khắc - vua cuối cùng, sau thoái vị thiện nhượng cho Hiên Viên Hoàng Đế).


II. TRUYỀN THUYẾT HÙNG VƯƠNG

1. Bánh Chưng - Bánh Giày:

Vua Hùng thứ 6 muốn chọn con hiền cho nối ngôi, mới ban lệnh thi cỗ. Các hoàng tử ra sức tìm kiếm sơn hào hải vị bày biện. Riêng Lang Liêu chỉ dùng gạo nếp thơm chế ra bánh giày, bánh chưng. Vua thấy Lang Liêu hiếu thảo siêng năng, sáng chế ra hai bánh quý bèn truyền ngôi cho làm Hùng Vương thứ 7.

2. Nguồn gốc Dưa hấu:

An Tiêm là con nuôi Vua Hùng, nói năng kiêu ngạo, bị đày ra đảo hoang. Vợ chồng An Tiêm chỉ được mang theo một ít lương thực và con dao phát. Chàng thấy đàn quạ đến đảo ăn thứ quả da xanh lòng đỏ, dây bò trên mặt đất. An Tiêm lấy một quả ăn thử thấy ngon ngọt khỏe người, bèn trỉa đất rắc hạt trồng khắp đảo. Đến vụ thu hoạch chàng gọi thuyền buôn vào bán. Vua biết tin liền cho đón về.

3. Chử Đồng Tử:

Công chúa Tiên Dung con Vua Hùng 18 thích du chơi phóng khoáng. Nàng cưỡi thuyền xuôi sông Cái, đến bãi Tự Nhiên sai căng màn tắm. Không ngờ dội lớp cát trôi lộ ta chàng đánh cá ở trần vùi mình trong hố, tên là Chử Đồng Tử. Tiên Dung cho rằng duyên trời xe, bèn lấy chàng làm chồng. Vua cha biết tin giận sai quân đến bắt, thì cả vùng đất cùng Chử Đồng Tử và Tiên Dung bay lên trời.

III. CÁC ĐỜI VUA HÙNG

Tạp chí Nguồn sáng trong dịp Giổ tổ Hùng Vương 1998 có viết: "Từ nhiều năm nay, chúng tôi đã cố gắng sưu tầm các truyền thuyết, thư tịch cổ, các ngọc phả các xã quanh vùng có đền thờ các Vua Hùng như xã Hy Cương (Vĩnh Phú) hiện lưu trữ tại Vụ bảo tồn bảo tàng, Bộ Văn Hóa (số hiệu HTAE 9) thì các tài liệu này không ghi chép là 18 đời Vua Hùng mà lại ghi là 18 chi, mỗi chi gồm nhiều đời Vua, có cả năm Can, Chi lúc sinh và lúc lên ngôi. Các đời Vua trong một chi đều lấy hiệu của Vua đầu chi ấy".

1. Chi Càn - Kinh Dương Vương:

Húy Lộc Tục, tức Hùng Dương Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr. TL) lên ngôi khi 41 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 86 năm, đều xưng là Hùng Dương Vương, từ năm Nhâm Tuất (2879 tr.TL) đến năm Đinh Hợi (2794 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời đại Tam Hoàng.

2. Chi Khảm - Lạc Long Quân:

Húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr. TL), lên ngôi khi 33 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 269 năm, đều xưng là Hùng Hiền Vương, từ năm Mậu Tý (2793 tr. TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời đại Hoàng Đế (Ngũ Đế).

3. Chi Cấn - Hùng Quốc Vương:

Húy Hùng Lân, tức Hùng Quốc Vương, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL), lên ngôi khi 18 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 272 năm, đều xưng là Hùng Quốc Vương, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr. TL) đến năm 2253 tr.TL. So ngang với Trung Quốc vào thời đại Đế Thuấn, Hữu Ngu.

4. Chi Chấn - Hùng Hoa Vương:

Húy Bửu Lang, tức Hùng Hoa Vương, không rõ năm sinh, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), không rõ truyền được mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 342 năm, đều xưng là Hùng Hoa Vương, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Đế Quýnh nhà Hạ.

5. Chi Tốn - Hùng Hy Vương:

Húy Bảo Lang, tức Hùng Hy Vương, sinh năm Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi 59 tuổi, không rõ truyền được mấy đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 200 năm, đều xưng là Hùng Hy Vương từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr. TL) đến Mậu Tý (1713 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Lý Quý (Kiệt) nhà Hạ.

6. Chi Ly - Hùng Hồn Vương:

Húy Long Tiên Lang, tức Hùng Hồn Vương, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. TL), lên ngôi khi 29 tuổi, truyền 2 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 81 năm đều xưng là Hùng Hồn Vương, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Đinh nhà Thương.

7. Chi Khôn - Hùng Chiêu Vương:

Húy Quốc Lang, tức Hùng Chiêu Vương, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr. TL), lên ngôi khi 18 tuổi, truyền 5 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 200 năm, đều xưng là Hùng Chiêu Vương, từ năm Canh Tuất (1631 tr. TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Ất nhà Thương.

8. Chi Đoài - Hùng Vỹ Vương:

Húy Vân Lang, tức Hùng Vỹ Vương, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr. TL) lên ngôi khi 39 tuổi, truyền 5 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 100 năm, đều xưng là Hùng Vỹ Vương, từ năm Canh Ngọ (1431 tr.TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Nam Canh nhà Thương.

9. Chi Giáp - Hùng Định Vương:

Húy Chân Nhân Lang, tức Hùng Định Vương, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi truyền 3 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 80 năm, đều xưng là Hùng Định Vương, từ 1331 đến 1252 (tr.TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Tổ Giáp nhà Ân.

10. Chi Ất - Hùng Uy Vương:

Huý Hoàng Long Lang, truyền được 3 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 90 năm, từ 1251 đến 1162 (tr.TL).

11. Chi Bính - Hùng Trinh Vương:

Húy Hưng Đức Lang, tức Hùng Trinh Vương, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, truyền 4 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 107 năm, đều xưng là Hùng Trinh Vương, từ năm Canh Tý (1161 tr.TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Thành Vương nhà Tây Chu.

12. Chi Đinh - Hùng Vũ Vương:

Húy Đức Hiền Lang, tức Hùng Vũ Vương, sinh năm Bính Thân (1105 tr.TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, truyền 3 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 86 năm, đều xưng là Hùng Vũ Vương, từ năm Đinh Hợi (1054 tr. TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.

13. Chi Mậu - Hùng Việt Vương:

Húy Tuấn Lang, tức Hùng Việt Vương, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL) lên ngôi khi 23 tuổi, truyền 5 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 115 năm, đều xưng là Hùng Việt Vương, từ năm Quý Hợi (968 tr. TL) đến Đinh Mùi (854 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Lệ Vương nhà Tây Chu.

14. Chi Kỷ - Hùng Anh Vương:

Húy Viên Lang, tức Hùng Anh Vương, sinh năm Đinh Mão (894 tr. TL) lên ngôi khi 42 tuổi, truyền 4 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 99 năm, đều xưng là Hùng Anh Vương, từ 853 đến 755 (tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Bình Vương nhà Đông Chu.

15. Chi Canh - Hùng Triệu Vương:

Húy Cảnh Chiêu Lang, tức Hùng Triệu Vương, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi truyền 3 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 94 năm, đều xưng là Hùng Triệu Vương, từ năm Đinh Hợi (754 tr. TL) đến năm Canh Thân (661 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Huệ Vương nhà Đông Chu.

16. Chi Tân - Hùng Tạo Vương:

Húy Đức Quân Lang, tức Hùng Tạo Vương, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr. TL), truyền 3 đời vua. Thần phả xã Tiên Lát, huyện Việt Yên, tỉnh Hà Bắc, ghi đời thứ 16 là Hùng Tạo Vương, đóng ở Việt Trì, có Thạc tướng quân đánh tan giặc Man, Vua phong là Chuyển Thạch Tướng Đại Vương – "Người anh hùng làng Dóng” - Cao Xuân Đỉnh (Nxb KHXH 1969 trg 126-130). Chi này ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr. TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Linh Vương nhà Đông Chu.

17. Chi Nhâm - Hùng Nghị Vương:

Húy Bảo Quang Lang, tức Hùng Nghị Vương, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, truyền 4 đời vua. Chi này ở ngôi tất cả 160 năm, đều xưng là Hùng Nghị Vương, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr. TL). So ngang với Trung Quốc vào thời Uy Liệt Vương nhà Đông Chu.

18. Chi Quý - Hùng Duệ Vương:

Sinh năm Canh Thân (421 tr. TL), lên ngôi khi 14 tuổi, truyền không rõ mấy đời vua (có lẽ 3 đời) vì ở đình Tây Đằng, huyện Ba Vì - Hà Nội có bài vị «Tam Vị Quốc Chúa», ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr. TL). So ngang với năm thứ 17 đời Uy Liệt Vương, đến năm thứ 56 đời Noãn Vương nhà Đông Chu Trung Quốc.

Tổng cộng là 2621 năm từ 2879 đến 258 (tr. TL).

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính. Như vậy, họ Hồng Bàng, trị vì nước Văn Lang, với vương hiệu Hùng Vương, không phải chỉ có 18 đời (18 ông vua) mà là 18 chi, mỗi chi có nhiều đời vua. Điều này giải thích hợp lý sự tồn tại gần 3000 năm của thời đại Hùng Vương.

Đền Hùng hiện nay trong ngôi đền chính, có một bài vị chung, thờ các vị Vua Hùng, có hàng chữ "Đột Ngột Cao Sơn Cổ Hùng Thị thập bát thế thánh vương, thánh vị". Do tục thờ cúng tổ tiên, chỉ thờ vị khai sáng đầu tiên, nên chữ "Thập bát thế" có thể hiểu là 18 Vương hiệu của các vị Tổ đầu tiên của 18 chi Hùng Vương, đã thay nhau cầm quyền trên đất nước Văn Lang, quốc gia đầu tiên của người Việt chúng ta ngày nay.

Lạc Long Quân trong truyền thuyết không phải là tên người mà là tên gọi chung cho các vị thủ lĩnh của một dòng tộc trong một thời đại như Viêm đế, Hoàng đế, họ Thần Nông, Kinh Dương Vương, Hùng Vương, dòng dõi biết nhiều phép thuật nhất từ âm dương, kinh dịch, thông thiên độn toán, hô mây gọi gió, phép chữa bệnh, trị bệnh và rất nhiều phép thuật cổ xưa truyền lại đến ngày nay.

IV. THỦY TỔ VÕ VIỆT NAM

Theo dòng lịch sử và căn cứ các sự kiện, nhân vật lịch sử, các cứ liệu, sách sử, hiện vật, các di chỉ về khảo cổ học, được thể hiện khá sinh động, kể từ khi loài người xuất hiện trên đất nước ta và xuyên suốt cuộc trường chinh dựng nước, giữ nước, đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc, nhất là giai đoạn hình thành, phát triển nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên của nước ta, đã xác định: Các vua Hùng (nhà nước Văn Lang) là Thủy Tổ khai sáng VÕ VIỆT NAM.

Trước đây, một số sách, tài liệu có đề cập ông Tổ của Võ cổ truyền Việt Nam là Quốc công tiết chế - Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, có sách còn đề cập cả vị anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt và Hoàng Đế Quang Trung. Nhưng căn cứ theo dòng lịch sử, gắn liền với các triều đại, cùng tiến trình hình thành, tồn tại và các giai đoạn phát triển của Võ cổ truyền Việt Nam, đều cho thấy Hưng Đạo Đại Vương, anh hùng dân tộc Lý Thường Kiệt, Hoàng Đế Quang Trung là những người kế tục xuất sắc, dựng xây nền tảng vững bền và phát triển đến tuyệt đỉnh võ công, góp phần quan trọng tạo nên sức mạnh thần kỳ và đem lại vinh quang cho võ Việt. Đồng thời, là những danh nhân lỗi lạc, văn võ kinh luân, có công to lớn trông tiến trình nâng tầm Võ cổ truyền Việt Nam lên thành nền võ học hoàn bị, để rồi sau đó đưa lên hàng "Quốc võ" chứ không phải ông Tổ khai sáng Võ cổ truyền Việt Nam.
 
Bến Tre, ngày 13 tháng 4 năm 2013
VÕ ĐẠO BÌNH ĐỊNH VIỆT NAM

(Đã ký)

Trưởng phái viên Võ Bình Việt

  • Tư liệu tham khảo:
- PHẠM ĐÌNH PHONG. Lịch sử võ học Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin.
- Tư liệu tổng hợp từ Internet.