MENU
HOÀNG ĐẾ QUANG TRUNG

* Trưởng phái viên Võ Bình Việt
Võ Đạo Bình Định Việt Nam


Di ảnh Quang Trung

Tương truyền Tây Sơn tam kiệt rất giỏi võ nghệ đã khai sáng ra dòng Võ Tây Sơn (Bình Định) dũng mãnh, thiện chiến được xếp vào hàng bậc nhất đại võ công của dân tộc. Họ có vai trò rất lớn cho sự hình thành và phát triển dòng võ này, là những đầu lĩnh sáng tạo, cải cách các bài võ để truyền dạy cho ba quân trong giai đoạn đầu khởi nghĩa tộc với Nguyễn Huệ chế tác Yến phi quyền, Nguyễn Lữ thì Hùng kê quyền và cả ba anh em Tây Sơn sáng tạo Độc lư thương. Trong đó, Nguyễn Huệ có công đầu, cho nên ông được tôn làm Thánh tổ dòng võ này.

1. Lược thuật thân thế

Nguyễn Huệ (1753 - 1792), có niên hiệu là Quang Trung khi lên ngôi hoàng đế tại Phú Xuân năm 1788.

Ông còn có tên gọi khác là Nguyễn Văn Bình, quê ấp Kiến Thành thuộc Tây Sơn Hạ Đạo (phủ Quy Nhơn, Bình Định).

Ông được miêu tả hình dáng như sau: Tóc quăn, da sần, mắt như chớp sáng, tiếng nói sang sảng như tiếng chuông, nhanh nhẹn, khỏe mạnh, can đảm với đôi mắt "ban đêm khi ngồi không có đèn thì ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu". Tổ tiên vốn gốc họ Hồ ở Nghệ An, bị quân chúa Nguyễn đánh bắt đưa vào Nam năm 1655 để khai hoang, lập ấp. Về sau, từ họ Hồ đổi sang họ Nguyễn.

2. Sự nghiệp chiến công

Đầu năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ (dân gian gọi là Tây Sơn tam kiệt) đã dựng cờ khởi nghĩa từ vùng đất Tây Sơn để chống lại triều đình phong kiến họ Nguyễn đang bị quyền thần Trương Phúc Loan tác oai, tác quái.

Lực lượng nghĩa quân phát triển ngày một mạnh mẽ, đã đánh chiếm được thành Quy Nhơn, rồi tiến ra chiếm luôn Quảng Ngãi.

Năm 1775, Nguyễn Huệ lần đầu tiên chỉ huy chiến dịch một cách xuất sắc trong trận Phú Yên, tiêu diệt được đội quân của chúa Nguyễn do Tống Phước Hiệp chỉ huy, buộc Hiệp phải lui về Văn Phong cầm cự.

Năm 1777, ông đích thân chỉ huy cuộc tấn công vào thành Gia Định lần thứ 2, bắt sống chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương đem giết đi, đã làm sụp đổ hoàn toàn cơ nghiệp của chúa Nguyễn ở (Đàng Trong). Chỉ còn có tôn thất của chúa Nguyễn là Nguyễn Ánh trốn thoát được.

Năm 1785, trong trận quyết chiến tại Rạch Gầm – Xoài Mút, nay thuộc tỉnh Tiền Giang, đã đập tan 5 vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh cầu viện, cùng hàng ngàn quân bản bộ.

Năm 1786, ông tổ chức tấn công tiêu diệt gần như toàn bộ cánh quân Trịnh ở phía Nam, giải phóng vùng đất cuối cùng của xứ Đàng Trong.

Lấy được Thuận Hóa, ông cùng Nguyễn Hữu Chỉnh đem quân ra Bắc, diệt nốt họ Trịnh, bình định xong đất Bắc trong năm 1786 này.

Năm 1789, khi Lê Chiêu Thống rước quân Thanh về giày xéo đất nước, Nguyễn Huệ đã chỉ huy 10 vạn quân tiến ra Bắc, đánh một trận quyết chiến tại Ngọc Hồi – Đống Đa (nay là Hà Nội), quét sạch 29 vạn quân Mãn Thanh và tập đoàn Lê Chiêu Thống ra khỏi bờ cõi Đại Việt.

Tiếc thay, vua chỉ ở ngôi được 5 năm thì đột ngột mất vào ngày 29 tháng 7 năm Nhâm Tý (1792) vào khoảng 11 giờ khuya (dương thọ 40 tuổi), miếu hiệu là Thái tổ Vũ hoàng đế. Thi hài của ông được mai táng ngay trong thành, tại phủ Dương Xuân.

Sau khi Nguyễn Ánh lấy được Phú Xuân đã sai quân quật mồ mả của ông và gia tộc lên để trả thù.

Sau cái chết của ông, như rắn mất đầu, đã khiến cho nhà Tây Sơn trở nên suy yếu một cách nhanh chóng.

Những người kế thừa ông không đủ bản lĩnh để lãnh đạo Đại Việt, làm cho cục diện lâm vào mâu thuẫn nội bộ và thất bại trong việc tiếp tục chống lại kẻ thù của Tây Sơn lúc bấy giờ.

3. Hậu thế ghi ơn

Trong thời gian trị vì, vua Quang Trung đã ban hành nhiều chính sách tiến bộ trên tất cả các lĩnh vực thuộc về: Kinh tế – Văn hóa – Giáo dục và Xã hội.

Ông là một trong những nhà lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, một nhà quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam, thể hiện rõ trong cuộc nội chiến và cả khi chống giặc ngoại xâm.

Do có rất nhiều công lao, cho nên Nguyễn Huệ cũng được xem như là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam, vị Thánh tổ của dòng Võ Tây Sơn (Bình Định) được triệu triệu cháu con thờ cúng hương khói nghìn đời.

Ngày nay, Quang Trung được thờ tại chùa Bộc ở Hà Nội. Bức tượng Quang Trung trong chùa được tạc vào thời kì nhà Nguyễn đang truy diệt tất cả những gì liên quan đến nhà Tây Sơn, tượng có dòng chữ "Bính Ngọ tạo Quang Trung tượng".

Hàng năm, vào ngày mồng 5 Tết âm lịch, tại quận Đống Đa - Hà Nội thường tổ chức hội Gò Đống Đa để kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa đánh tan quân Thanh của vua Quang Trung. Dịp kỷ niệm 200 năm chiến thắng Đống Đa, khu tượng đài Quang Trung được xây dựng tại khu vực này.

Phòng tuyến Tam Điệp ở thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình là một quần thể các di tích lịch sử ghi dấu cuộc chiến tranh giữa nghĩa quân Tây Sơn và nhà Thanh. Quần thể di tích này thuộc khu vực dãy núi Tam Điệp, là ranh giới tự nhiên hiểm yếu ngăn cách hai miền Trung - Bắc. Đây là nơi hội quân một thời oai hùng của vua Quang Trung với những cái tên đèo Ba Dội, núi Gióng Than, đồi Hầu Vua, đồi Chuông, đền Cao Sơn, đền Quán Cháo, chùa Dâu… Những đồn luỹ Tam Điệp, Quèn Rẻ, Quèn Thờ, Luỹ Chẹn, Luỹ Đệm, Luỹ Đền… ải Quang Trung, Kẽm Đó – cổ họng hiểm yếu nhất Tam Điệp… Luỹ Quèn Thờ là vùng đồi núi, rừng rú hoang vu, năm xưa khi thân chinh ra Bắc, vua Quang Trung đã lên thắp hương xin kế phá giặc ở đây. Tương truyền ngôi đền thờ thần Cao Sơn trước đó ở giữa lưng chừng núi. Vua Quang Trung đã được thần báo mộng và nhắc nhở xây đền lên đỉnh núi nếu thắng trận. Sau khi thắng trận vị vua này đã cho di dời Đền lên đỉnh núi. Đền Quán Cháo là ngôi đền gắn với sự tích tiên nữ dâng cháo cho quân lính Tây Sơn trước giờ xung trận. Đền thờ Quang Trung được xây dựng ở thành cổ Tam Điệp ngay trong thời nhà Nguyễn. Quảng trường, tượng đài Hoàng đế Quang Trung được nhân dân Ninh Bình xây dựng tại xã Quang Sơn, thành phố Tam Điệp.

Quang Trung đại phá quân Thanh

Còn tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định cũng có tượng đài Hoàng Đế Quang Trung, đặt tại Bảo Tàng Quang Trung.

Tên Nguyễn Huệ hoặc niên hiệu Quang Trung của ông được đặt cho các đường phố, phường xã ở các thành phố lớn Việt Nam (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Vinh, Phan Thiết, Hạ Long, Uông Bí, Quảng Yên, Bến Tre...). Ở Hà Nội, phố Quang Trung được đặt trên di chỉ cũ của phủ chúa Trịnh là nơi ông từng đóng quân khi tiến vào Thăng Long năm 1786 và cũng là nơi cử hành hôn lễ giữa ông và công chúa Lê Ngọc Hân.

Ở Thành phố Hồ Chí Minh, có một ngôi miếu nhỏ của ông tọa lạc tại Quận 12, gần Công viên phần mềm Quang Trung…
Bến Tre, ngày 13 tháng 4 năm 2013
VÕ ĐẠO BÌNH ĐỊNH VIỆT NAM

(Đã ký)

Trưởng phái viên Võ Bình Việt

  • Tài liệu tham khảo:
- Sử liệu Việt Nam;
- Tư liệu Hoàng đế Quang Trung – Nguyễn Huệ;